ĐẠI CƯƠNG Thoát vị đĩa đệm.
ĐẠI CƯƠNG.
Bình thường đĩa đệm nằm ở khe giữa hai đốt sống, được giữ chắc bởi lớp vỏ sợi bọc nhân nhày ở trung tâm (nhân tủy). Nhờ tính đàn hồi, đĩa đệm làm nhiệm vụ như một bộ phận giảm xóc, bảo vệ cột sống khỏi bị chấn thương. Nếu có một lực tác động mạnh vào cột sống do chấn thương, do gắng sức hoặc do lớp vỏ sợi bao hoạt dịch bị suy yếu (thoái hóa) ..., nhân nhày có thể qua chỗ rách của đĩa đệm thoát ra ngoài, chèn ép rễ thần kinh gây đau cột sống
Thoát vị đĩa đệm là tình trạng nhân nhầy đĩa đệm cột sống thoát ra khỏi vị trí bình thường của màng bao hoạt dịch, chèn ép vào rễ thần kinh, tủy sống hay nói cách khác nó là tình trạng đĩa đệm bị ép lồi ra khỏi vị trí bình thường, giữa các đốt sống, và có sự đứt rách vòng sợi gây nên hội chứng thắt lưng hông điển hình. Thoát vị đĩa đệm cột sống xảy ra khi nhân nhầy của đĩa đệm thoát ra ngoài và Thoát vị đĩa đệm thường tập trung ở các dạng chính là thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ và thoát vị đĩa đệm đốt sống thắt lưng, thoát vị đĩa đệm mất dịch.
- Khi bị thoát vị đĩa đệm đốt sống cổ, người bệnh có biểu hiện đau vùng chẩm, cổ gáy, vai, tay đau tê hoặc mất cảm giác do bị chèn ép rễ thần kinh và đám rối thần kinh. Đau cổ gáy, đau đầu, đau vùng chẩm có thể do tổn thương đám rối thần kinh cổ C1 - C4. Đau cổ gáy lan xuống vai cánh tay có thể do tổn thương đám rối thần kinh cánh tay C5 – C7. Các hiện tượng đau, nhức, tê tăng lên hay giảm xuống theo cử động cổ vai tay... Ngoài ra, đau cột sống nói chung và đau rễ thần kinh là các triệu chứng nổi bật nhất của bệnh thoát vị đĩa đệm. Đau thường tái phát nhiều lần, mỗi đợt kéo dài khoảng 1-2 tuần, sau đó lại đỡ. Đau âm ỉ kéo dài và có xu hướng tăng dần.
- Khi bị thoát vị đĩa đệm đốt sống thắt lưng thì gây đau vùng thắt lưng và có khi kèm triệu chứng đau thần kinh liên sườn: cảm giác đau tăng khi nằm nghiêng, ho và cúi người. Bệnh nhân sẽ thấy đau vùng cột sống lưng, đau lan xuống hông, đùi và cẳng chân, hạn chế vận động cột sống. Đau tê, có khi như kiến bò, như kim châm, mất cảm giác từng vùng ở mông, chân, bàn chân, trường hợp bệnh lâu ngày có thể bị teo cơ, nặng có thể bị liệt. Người bệnh có tư thế ngay lưng hay vẹo về một bên để chống đau, cơ cạnh cột sống co cứng, có trường hợp đau rất dữ dội và người bệnh phải nằm bất động về bên đỡ đau (gọi là tư thế chống đau).
- Hội chứng đuôi ngựa với biểu hiện gồm đau một cách dữ dội, người bệnh không thể chịu nổi, đòi hỏi cấp cứu về thần kinh. Đau kèm theo liệt cơ, mất cảm giác, rối loạn cảm giác… Trường hợp hội chứng đuôi ngựa dưới có thể rối loạn cơ thắt kiểu ngoại vi, rối loạn cảm giác vùng đáy chậu, không có liệt hoặc chỉ liệt một số động tác của bàn chân. Đối với trường hợp hội chứng đuôi ngựa giữa thì có triệu chứng liệt gấp cẳng chân, liệt các động tác của bàn chân và ngón chân, mất cảm giác toàn bộ ngón chân; mất cảm giác toàn bộ cẳng chân, bàn chân, mặt sau đùi và mông; rối loạn cơ thắt kiểu ngoại vi.
2. Đau thần kinh tọa.
Đau dây thần kinh hông to (thần kinh tọa), là một hội chứng đau rễ thắt lưng L5 và rễ cùng S1 lan theo hướng đi của dây thần kinh hông .
– Nguyên nhân đau dây thần kinh hông to rất phong phú : Cơ năng, thực thể, nhiễm trùng, nhiễm độc, do lạnh, do thoái hóa đốt sống, do thoát vị đĩa đệm , do khối u .v.v… Trong đó nguyên nhân đau dây thần kinh hông to do thoát vị đĩa đệm hay gặp nhất chiếm trên 75% các trường hợp. Do đó Tây y đã mở rộng phạm vi phẫu thuật và thu hẹp phạm vi chẩn đoán đau dây thần kinh hông to do thấp, nhưng chi phí cao và có nguy cơ liệt do tai biến phẫu thuật.
– Đau dây thần kinh hông to được miêu tả trong phạm vi chứng thấp tý của YHCT và có bệnh danh: Yêu cước thống, Tọa cốt phong, Tọa điến phong.
– Tý là bế tắc, chứng tý là chứng kinh mạch bị ngoại tà xâm phạm làm bế tắc, dẫn đến khí huyết vận hành bị trở trệ gây nên bì phu, cân cốt, cơ nhục, khớp xương tê bì, nếu nặng thì co duỗi khó khăn. Hai nguyên nhân sau phối hợp với nhau gây nên bệnh:
+ Do nguyên khí hư yếu,.
+ Phong , hàn , thấp ba loại tà khí thừa cơ cùng xâm nhập vào kinh lạc làm bế tắc kinh lạc hoặc phong – hàn – thấp tà uất lâu hóa nhiệt hoặc kinh lạc có tích nhiệt nay lại có phong – hàn – thấp tà xâm nhập mà phát bệnh.
Xem thêm ở bài: Bệnh đau lưng và thuốc chữa.
THEO Y HỌC CỔ TRUYỀN.
Thể lâm sàng:
1. Đau dây thần kinh hông to do lạnh:
YHCT gọi là trúng phong hàn ở kinh lạc .
Triệu chứng:
– Tại chỗ : đau sau khi nhiễm lạnh, đau từ thắt lưng hoặc từ mông lan xuống chân, đi lại khó khăn, đau tăng khi lạnh, chườm ấm dễ chịu, thường có điểm đau khu trú, chưa có teo cơ.
– Toàn thân: Sợ gió, sợ lạnh, tay chân lạnh, chân bên bị bệnh lạnh hơn chân lành, tiểu tiện trong, đại tiện bình thường, rêu lưỡi trắng mỏng, mạch phù hoặc phù khẩn.
Pháp điều trị:
Khu phong tán hàn trừ thấp thông kinh hoạt lạc.
Châm cứu:
– Ôn điện châm các huyệt:
+ Nếu đau theo kinh bàng quang (đau kiểu rễ S1 => đùi => mặt giữa – sau cẳng chân ):
Giáp tích L4-L5, L5-S1, Thận du, Đại trường du, Yêu dương quan, Thượng liêu, Trật biên, Thừa phù, Ân môn, Ủy trung, Thừa sơn, Côn lôn.
+ Nếu đau theo kinh đởm (đau kiểu rễ L5 => đùi => mé ngoài cẳng chân):
Giáp tích L4-L5, L5-S1, Đại trường du, Thận du, Thượng liêu, Hoàn khiêu, Phong thị, Dương lăng tuyền, Huyền chung, Giải khê. Nếu đau ngón chân cái nhiều thì châm thêm: Thừa phù, Ân môn.
+ Nếu đau cả hai kinh Bàng quang và kinh Đởm: châm các huyệt ở cả hai kinh
2. Đau dây thần kinh hông to do thoái hóa cột sống gây chèn ép:
YHCT gọi là phong hàn thấp tý kết hợp với can thận hư.
Triệu chứng:
– Đau vùng thắt lưng lan xưống chân theo đường đi của dây thần kinh hông, đau có cảm giác tê bì, nặng nề, teo cơ, bệnh kéo dài dễ tái phát. Thường kèm theo triệu chứng toàn thân: ăn kém, ngủ ít, tiểu tiện trong, chất lưỡi nhợt bệu, rêu lưỡi trắng dầy và nhớt . Mạch nhu hoãn hoặc trầm hoạt ( nhược ).
Pháp điều trị:
Khu phong tán hàn trừ thấp – hoạt huyết, bổ can thận. Nếu teo cơ thêm các vị bổ khí huyết.
Châm cứu:
– Điện châm các huyệt: như thể trên.
3. Đau dây thần kinh hông to do viêm nhiễm:
YHCT gọi là thể thấp nhiệt (ít gặp) .
Triệu chứng:
– Đau có cảm giác nóng rát, đau nhức như kim châm, chân đau nóng hơn so với bên lành, chất lưỡi hồng hoặc đỏ, rêu lưỡi vàng mỏng hoặc dày . Mạch sác.
Pháp điều trị:
Thanh nhiệt trừ thấp, hành khí, hoạt huyết.
Châm cứu:
Châm tả các huyệt: như thể trên.
4. Đau dây thần kinh hông to do sang chấn:
YHCT gọi là thể huyết ứ.
Triệu chứng:
Đau dữ dội tại một điểm, đột ngột , lan xuống chân, chất lưỡi đỏ tím, có điểm ứ huyết, rêu lưỡi trắng hoặc vàng . Mạch sáp.
Pháp điều trị:
Hành khí hoạt huyết khứ ứ, thông kinh hoạt lạc .
Châm cứu :
Châm tả các huyệt : như các thể trên kết hợp châm Huyết hải .
LƯU Ý
– Đau dây thần kinh hông to là một chứng bệnh hay gặp do nhiều nguyên nhân: Cơ năng, thực thể gây ra. Cần chẩn đoán nguyên nhân bằng các phương tiện của YHHĐ để có phương pháp điều trị thích hợp.
– Khả năng điều trị bằng các phương pháp của YHCT có kết quả tốt với các trường hợp đau dây thần kinh hông to cơ năng. Các trường hợp đau TK hông to do thực thể kết quả hạn chế cần kết hợp điều trị tại các chuyên khoa sâu của YHHĐ.
ĐIỀU TRỊ.
Điều trị bằng đông y thường dùng châm cứu, xoa bóp bấm huyệt, tác động cột sống kết hợp chiếu đèn hồng ngoại. Dùng thuốc chườm, đắp .v.v… Với trường hợp thoát vị đĩa đệm tuyệt đối không được vận động cột sống làm tăng sự tổn thương. Đau thần kinh tọa cũng chủ yếu chữa ở lưng là gốc của bệnh, phần đau lan sẽ tự khỏi. Uống trong bằng các bài thuốc hoạt huyết, khu phong, tán hàn, trừ thấp kết hợp bổ can thận, tùy theo bệnh lý và kinh nghiệm của mỗi thầy thuốc.
Nhận xét
Đăng nhận xét